Những nguyên tắc chung về an toàn sinh học trong phòng xét nghiệm

45

Kỹ thuật viên xét nghiệm làm việc trong phòng xét nghiệm cần phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy tắc chung về an toàn sinh học.

Những nguyên tắc chung về an toàn sinh học trong phòng xét nghiệm

Những nguyên tắc chung về an toàn sinh học trong phòng xét nghiệm

Một số nguyên tắc chung về an toàn sinh học

Trong chương trình đào tạo ngành Xét nghiệm hệ Cao đẳng Xét nghiệm, Văn bằng 2 Cao đẳng Xét nghiệm và liên thông Cao đẳng Xét nghiệm tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur, toàn bộ sinh viên trước khi học những kiến thức chuyên sâu về chuyên môn đều phải nắm được rõ về quy tắc an toàn sinh học trong phòng xét nghiệm một cách tốt nhất.

Phân loại các vi sinh vật gây bệnh theo nhóm nguy cơ

Quá trình phân loại các vi sinh vật bệnh theo nhóm nguy cơ sẽ dựa vào những yếu tố dưới đây:

Thứ nhất là khả năng gây bệnh của vi sinh vật

Căn cứ vào khả năng gây bệnh của vi sinh vật sẽ dựa vào phương thức lan truyền bệnh và yếu tố vật chủ. Những yếu tố này sẽ bị ảnh hưởng bởi tính miễn dịch hiện có của cộng đồng trong vùng, sự di chuyển và mật độ của các quần thể vật chủ, trung gian truyền bệnh thích hợp và tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường.

Biện pháp phòng ngừa gồm tiêm vắc xin hoặc sử dụng huyết thanh, những biện pháp như vệ sinh thức ăn, nước uống, kiểm soát vệ sinh môi trường, nguồn động vật. Các biện pháp điều trị như dùng thuốc kháng sinh, kháng vi rút hay hóa trị liệu. Trong trường hợp này cần chú ý đến sự xuất hiện của những loại vi sinh vật kháng thuốc.

Dựa theo các đặc điểm trên, các loại vi sinh vật gây bệnh được chia thành 4 nhóm nguy cơ:

Nhóm nguy cơ 1: Là những vi sinh vật thường không có khả năng gây bệnh cho người hoặc động vậy như Naegleria gruberi, Bacillus subtilis…những nhóm này thường có nguy cơ gây bệnh thấp.

Các loại vi sinh vật gây bệnh thường được chia thành các nhóm khác nhau

Các loại vi sinh vật gây bệnh thường được chia thành các nhóm khác nhau

Nhóm nguy cơ 2: Đây là nhóm nguy cơ có khả năng gây bệnh cho vật thể những không phải ở mức độ cao, không trở thành mối nguy hiểm đối với những kỹ thuật viên xét nghiệm trong phòng thí nghiệm và có những phương pháp dự phòng, điều trị hiệu quả ví dụ như vi khuẩn tả, cúm a/H1N1, virut Viêm gan B…

Nhóm nguy cơ 3: Đây là nhóm có nguy cơ lây nhiễm bệnh ở mức độ cao, gây bệnh nặng cho người và động vật, tuy nhiên vẫn có những biện pháp phòng ngừa hiệu quả như vi khuẩn than, virut SARS,…

Nhóm nguy cơ 4: nhóm này thường gây bệnh nặng cho người và động vật, mức độ lây nhiễm trong cộng đồng là rất cao, có khả năng lây truyền từ cá thể này sang cá thể khác theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Đối với nhóm nguy cơ 4 này thì chưa có biện pháp phòng trừ hiệu quả như vi rút Marburg, Vi rút Ebola…

Thứ 2 là đánh giá nguy cơ vi sinh vật

Một vấn đề quan trọng đối với sinh viên ngành Xét nghiệm đó chính là việc đánh giá nguy cơ của vi sinh vật. Đây cũng là một trong những kiến thức mà sinh viên sẽ được học trong quá trình hoàn thiện chương trình Cao đẳng Xét nghiệm/Văn bằng 2 hoặc liên thông tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur để có thể đánh giá một cách chính xác nhất nguy cơ vi sinh vật.

Đánh giá nguy cơ vi sinh vật phải là những người có đủ kiến thức xét nghiệm

Đánh giá nguy cơ vi sinh vật phải là những người có đủ kiến thức xét nghiệm

Người thực hiện việc đánh giá nguy cơ vi sinh vật cần phải có những sự hiểu biết một cách đầy đủ về những đặc điểm riêng của từng loại vi sinh vật được xét nghiệm, sử dụng những thiết bị, thiết bị lưu trữ và cơ sở vật chất sẵn có. Bên cạnh đó người phụ trách cũng cần phải đảm bảo về việc đánh giá mức độ nguy hiểm, kịp thời, phù hợp với tính chất của ngành Xét nghiệm. Việc đánh giá nguy cơ tiềm ẩn của vi sinh vật cần phải được tiến hành một cách định kỳ và cần thiết, xác định được cấp độ an toàn của sinh học phù hợp, lựa chọn trang thiết bị cần thiết và áp dụng những biện pháp an toàn khác nhằm đảm bảo độ an toàn cao nhất trong công việc.

Đảm bảo chất lượng cơ sở vật chất trong phòng xét nghiệm

Phòng xét nghiệm cần phải đảm bảo được mức độ không gian đủ rộng để có thể thực hiện được những công việc như lau chùi, để máy móc, trang thiết bị, bảo dưỡng khi cần thiết. Đặc biệt tường và sàn nhà phải được thiết kế bằng phẳng và dễ dàng lau chùi, không thấm nước, chịu được sự tác động của hóa chất, không trơn trượt.

Mặt bàn xét nghiệm khôngthấm nước và chịu được chất khử khuẩn, axít, kiềm, dung môi hữu cơ và nhiệt. Ánh sáng đủ cho các hoạt động, tránh ánh sáng phản chiếu hoặc quá chói. Đồ đạc dụng cụ cần chắc chắn, tất cả các hoạt động các nhân, sinh hoạt đều thực hiện bên ngoài phòng xét nghiệm.

Phòng xét nghiệm phải đảm bảo đúng theo quy định

Phòng xét nghiệm phải đảm bảo đúng theo quy định

Bồn rửa tay có vòi nước gần cửa ra vào, cửa kính phải trong suốt và chịu nhiệt, có các phương tiện cứu hỏa và xử lý sự cố điện, vòi rửa mắt khẩn cấp trong phòng thí nghiệm

Hộp thuốc và dụng cụ sơcứu ban đầu được trang bị thích hợp và sẵn sàng cho sử dụng. Cửa sổ phải có lưới chắn côn trùng, có hệ thống nước sạch, hệ thống điện ổn định đảm bảo cho máy móc hoạt động liên tục.

Các thiết bị xét nghiệm phải được thiết kế và lắp đặt giảm thiểu tối đa sự tiếp xúc giữa người làm xét nghiệm với vật phẩm. Các thiết bị phải liên tục được kiểm tra và đạt chuẩn theo quy định. Đặc biệt kỹ thuật viên xét nghiệm cần phải mặc đồ bảo hộ khi thực hiện những xét nghiệm quan trọng.

Nguồn: Cao đẳng Xét nghiệm